Phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh bạch cần cấp tính – Bệnh Viện Ung thư
09
24
Trang chủ » Khối U » Dấu hiệu và phương pháp tầm soát Ung thư thận – giai đoạn cuối

Dấu hiệu và phương pháp tầm soát Ung thư thận – giai đoạn cuối

click mePHÓNG SỰ UNG THƯ VTV1 TẠI FUDA

Phương pháp chẩn đoán lâm sàng bệnh bạch cần cấp tính

 

Bệnh bạch cầu cấp tính ở trẻ em sẽ dùng phương pháp xét nghiệm và một vài thủ thuật hình ảnh để chẩn đoán lâm sàng cho bệnh này, đồng thời kiểm tra được tế bào ung thư bạch cầu đã lan sang các phần khác trên cơ thể hay chưa:

 

 

Kiểm tra sức khỏe:  Đây là bước đầu tiên nhằm kiểm tra các dấu hiệu chung sức khỏe của trẻ, bao gồm các kiểm tra dấu hiệu của bệnh, u hoặc các vết bầm bất thường trên cơ thể của bệnh nhân. Thu thập thông tin tiền sử căn bệnh này có gen di truyền ở gia đình bệnh nhân hay không.

 

Xét nghiệm máu: Các chuyên gia y tế sẽ lấy mẫu máu từ bệnh nhân và kiểm tra các chỉ số sau:

 

Số lượng tế bào máu đỏ và tiểu cầu

 

Số lượng và loại bạch cầu

 

Lượng hemoglobin (protein mang oxy) trong các tế bào máu đỏ

 

Phần máu được tạo thành từ các tế bào máu đỏ

 

Kiểm tra máu với chất hóa học:  Một thủ thuật sử dụng mẫu máu để kiểm tra để đo lượng chất nhất định thải vào máu của các cơ quan và các mô trong cơ thể. Một lượng chất bất thường (cao hơn hoặc thấp hơn bình thường) có thể là dấu hiệu của bệnh.

 

Tủy xương và sinh thiết:  Đây là phương pháp cho việc loại bỏ tủy xương, máu và một mảnh xương nhỏ bằng cách chèn một kim rỗng vào xương sống hoặc xương ức. Chuyên gia y tế sẽ dùng mẫu tế bào vừa được lấy ra để kiểm tra xem tủy xương, máu và xương dưới kính hiển vi để tìm dấu hiệu ung thư.

 

Các xét nghiệm cần thiết được thực hiện trên máu hoặc mô tủy xương được lấy ra:

 

Phân tích tế bào học:  Một xét nghiệm trong đó các tế bào trong một mẫu máu hoặc tủy xương được xem dưới kính hiển vi để tìm những thay đổi nhất định trong nhiễm sắc thể của tế bào lympho. Ví dụ, ở ALL nhiễm sắc thể tích cực của Philadelphia, một phần của một nhiễm sắc thể chuyển vị trí với một phần của nhiễm sắc thể khác. Điều này được gọi là “nhiễm sắc thể Philadelphia”.

 

Immunophenotyping:  Đây là một xét nghiệm kiểm tra các kháng nguyên hoặc đánh dấu các dấu hiện bất thường trên bề mặt của một tế bào máu hoặc tủy xương và xem xét là tế bào lympho hoặc tế bào myeloid. Nếu các tế bào là tế bào lympho ác tính (xác định là ung thư) và chúng được kiểm tra xem chúng có là tế bào lympho B hay tế bào lympho T hay không.

 

Thủng thắt lưng:  Mẫu dịch não tủy (CSF) sẽ được lấy ra từ cột sống. Phương pháp này được thực hiện bằng cách đặt một kim giữa hai xương ở cột sống và vào CSF ​​xung quanh tủy sống và loại bỏ một mẫu chất lỏng. Mẫu của CSF được kiểm tra dưới kính hiển vi cho các dấu hiệu cho thấy các tế bào ung thư bạch cầu đã lan đến não và tủy sống hay chưa. Quy trình này còn được gọi là LP hoặc vòi cột sống . 
Phương pháp này được thực hiện sau khi bệnh bạch cầu được chẩn đoán để tìm ra nếu các tế bào ung thư bạch cầu đã lan đến não và tủy sống.

 

X – quang:  Nhằm lấy hình ảnh X – quang các cơ quan bên trong và xương bên trong ngực. Tia X là một loại chùm năng lượng có thể xuyên qua cơ thể và lên phim, tạo ra một loạt hình ảnh về các khu vực bên trong cơ thể. X – quang ngực được thực hiện để xem xét các tế bào bệnh bạch cầu đã hình thành khối ở giữa ngực hoặc đã hình thành ở vị trí khác.

 

Tiên lượng để lựa chọn phương pháp điều trị

 

 

Tiên lượng tình trạng tế bào ung thư:

 

Số lượng tế bào ung thư bạch cầu sẽ giảm nhanh như thế nào sau tháng điều trị đầu tiên

 

Độ tuổi, sức khỏe của bệnh nhân tại thời điểm chẩn đoán, giới tính

 

Số lượng bạch cầu trong máu tại thời điểm chẩn đoán

 

Liệu các tế bào ung thư bạch cầu có bắt đầu từ tế bào lympho B hay lympho bào T hay không

 

Những thay đổi nhất định trong nhiễm sắc thể hoặc gen của các tế bào lympho với ung thư

 

Liệu các tế bào ung thư bạch cầu có được tìm thấy trong dịch não tủy hay không

 

Lựa chọn phương pháp điều trị:

 

Liệu các tế bào ung thư bạch cầu có bắt đầu từ tế bào lympho B hay lympho bào T hay không

 

Độ tuổi, nguy cơ tình trạng bệnh của bệnh nhân

 

Những thay đổi nhất định trong nhiễm sắc thể của các tế bào lympho, chẳng hạn như nhiễm sắc thể Philadelphia

 

Điều trị bằng steroid trước khi bắt đầu điều trị cảm ứng

 

Đối với bệnh bạch cầu tái phát (trở lại) sau khi điều trị, các tiên lượng và lựa chọn điều trị phụ thuộc một phần vào những điều sau đây:

 

Khoảng thời gian giữa thời gian chẩn đoán và khi bệnh bạch cầu trở lại

 

Bệnh bạch cầu trở lại trong tủy xương hoặc trong các bộ phận khác của cơ thể

 

Ba nhóm nguy cơ ở trẻ em ALL và yếu tố ảnh hưởng

 

Nhóm nguy cơ ALL:

 

Nguy cơ tiêu chuẩn (thấp):  Bao gồm trẻ em từ 1 đến dưới 10 tuổi có số lượng bạch cầu dưới 50.000/µL tại thời điểm chẩn đoán

 

Nguy cơ cao:  Trẻ em từ 10 tuổi trở lên hoặc trẻ em có số lượng tế bào máu trắng từ 50.000/µL trở lên tại thời điểm chẩn đoán

 

Nguy cơ rất cao:  Trẻ em dưới 1 tuổi, trẻ có những thay đổi nhất định về gen, trẻ có đáp ứng chậm với điều trị ban đầu và trẻ có dấu hiệu bệnh bạch cầu sau 4 tuần điều trị đầu tiên

 

Yếu tố ảnh hưởng:

 

Xem xét các tế bào ung thư bạch cầu có bắt đầu từ tế bào lympho B hay tế bào lympho T

 

Những thay đổi nhất định trong nhiễm sắc thể hoặc gen của các tế bào lympho

 

Điều quan trọng là phải biết nhóm nguy cơ để lên kế hoạch điều trị. Trẻ em bị nguy cơ cao hoặc có nguy cơ cao rất ALL thường được chỉ định dùng thuốc liều cao hơn các loại thuốc chống ung thư so với trẻ em có nguy cơ nằm trong nhóm tiểu chuẩn

 

GIỚI THIỆU CHUYÊN GIA
Phổ Biến Nhất